User Name Remember Me?
Password
Home Forums Members List Calendar Search Today's Posts Mark Forums Read

Liên hệ Donate

[Seishun 2015] Bông Hậu Contest

[Vietsub] News no Onna 2/11

Glass no Ie (Vietsub 9/9)

Topic nổi bật


Danh Sách Nghệ Sỹ

Phim Nhật Bản

Tin Tức

Go Back   Takky Fan Community Toshoshitsu Điện ảnh tổng hợp

Reply
 
Thread Tools Display Modes
Old 06-15-2009, 11:52 PM   #81 Offline
rinchan
Masuda Rin
rinchan's Avatar
Join Date: Apr 2008
Posts: 184
Jai Đẹp: 36
Thanks: 97
Thanked 235 Times in 67 Posts
rút kinh nghiệm từ mấy đợt trước chữ nhỏ mọi người khó nh́n, lần này quyết định sẽ post nguyên bản lên đây trước để mọi người đọc cho sướng rồi mới làm pts sau ^_^ phiên bản pts coming soon
lẽ ra đă phải ra mắt cái này từ tháng trước nhưng do chút trục trặc kỹ thuật không đáng nói nên giờ mới có đây.

===============

TIỂU THUYẾT TRÊN ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG


Tiểu thuyết trên điện thoại di động, tiếng Nhật gọi là keitai shousetsu, là một ḍng trào lưu văn học mới được phổ biến rộng răi qua h́nh thức các mẩu tin nhắn trên điện thoại. Trong thời đại công nghệ thông tin, dạng tiểu thuyết này ban đầu được sáng tác và đón nhận chủ yếu bởi chị em phụ nữ Nhật Bản, khai thác chi tiết về những câu chuyện t́nh cảm hư cấu như t́nh yêu, t́nh dục, cưỡng dâm, các mối quan hệ xă hội cũng như các câu chuyện về hiện tượng mang thai tuổi vị thành niên. Tuy nhiên, khi keitai shousetsu bắt đầu có những bước tiến mang tính toàn cầu rơ rệt th́ các đề tài cũng nghiễm nhiên trở nên đa dạng hơn. Kết cấu của hệ thống mạng Internet Nhật Bản cho phép người sử dụng có thể dùng tên và lư lịch giả khi đăng kư. Do đó, danh tính của các tác giả tham gia viết loại truyện này thường rất ít khi bị đem ra mổ xẻ trước dư luận, và hiện tượng “nam mạo danh nữ” cũng từ đó mà nở rộ. Khác với tiểu thuyết thường, keitai shousetsu có khả năng thể hiện ư đồ của tác giả thông qua cách tŕnh bày. Nếu một cặp t́nh nhân đang tranh căi, tác giả sẽ sắp xếp các câu thoại gần hơn và có mật độ dày hơn so với b́nh thường. Ngược lại, khi viết một bài thơ nhẹ nhàng lăng mạn th́ các câu văn có xu hướng cách xa nhau, nhưng vẫn đảm bảo dễ dàng cho việc theo dơi cốt truyện. Mỗi tin nhắn viết theo dạng keitai shousetsu thường có từ 1000 đến 2000 từ (ở Trung Quốc) hoặc 70 từ (ở Nhật Bản), được tải về từ các trang web nguồn dưới h́nh thức các phần mềm nhỏ gọn. Các phần mềm này sẽ được vận hành bởi một ứng dụng đặc biệt trên điện thoại dựa theo hệ thống ngôn ngữ lập tŕnh Java. Keitai shousetsu thường đến với độc giả qua ba loại định dạng: WMLD, JAVA và TXT. Maho iLand là một nguồn keitai shousetsu miễn phí khổng lồ với hơn 1 triệu tác phẩm chủ yếu của các tác giả nghiệp dư, đồng thời là nguồn cung cấp các mẫu khuôn, nền cho các blog và website. Maho iLand đạt đến con số 3.5 tỉ lượt truy cập mỗi tháng. Năm 2007, 98 tiểu thuyết keitai shousetsu đă được xuất bản thành sách, trong đó phải kể đến sự thành công của “Koizora” – sáng tác bởi Mika - với 12 triệu lượt theo dơi trực tuyến. Tiểu thuyết này không chỉ dừng lại trên những trang sách đơn thuần mà c̣n được chuyển thể thành phim, tiến thêm một bước để gần hơn với độc giả qua màn ảnh rộng.

Năm trong bảng xếp hạng 10 tiểu thuyết bán chạy nhất năm 2007 có nguồn gốc từ keitai shousetsu.


Lịch sử

Keitai shousetsu đầu tiên được in thành sách ra mắt tại Nhật vào năm 2003 bởi một người đàn ông Tokyo trung niên lấy bút danh Toshi. Tác phẩm này mang tên Deep love, là câu chuyện của một thiếu niên Tokyo làm nghề mại dâm. Deep love ngay sau đó đă nhận được sự hưởng ứng từ độc giả toàn quốc và nhanh chóng được xuất bản thành sách b́a cứng, tiêu thụ hơn 2.6 triệu bản trong nước Nhật, để rồi sau đó được chuyển thể thành truyện tranh, thành phim truyền h́nh, thành phim điện ảnh. Keitai shousetsu thành công nhờ sự kết hợp hài hoà giữa văn nói và văn viết, do đó nhanh chóng được giới trẻ đón nhận. Phong trào lan nhanh sang Trung Hoa đại lục và Hàn Quốc. Tại Nhật, nhiều công ty sẵn sàng trả nhuận bút cao cho người sáng tác (đến 100,000USD) và chi trả chi phí mua bản quyền tác phẩm.

Hiện tượng này vẫn chưa gây ấn tượng đủ đối với giới trẻ Mỹ và Châu Âu.


Lời giải đáp cho cơn sốt tiểu thuyết điện thoại

Mặc dù được bắt đầu từ Nhật nhưng keitai shousetsu đă nhanh chóng lan sang Trung Quốc, và rất nhiều người tham gia sáng tác là sinh viên đại học. Những tác giả này hiểu rơ điều ǵ sẽ hấp dẫn độc giả của họ; họ vay mượn những cái thực trong cuộc sống thường ngày, để rồi biến hoá chúng một cách tài t́nh và đem chúng vào tác phẩm.

Ḍng tiểu thuyết này tạo ra một thế giới ảo cho giới trẻ thông qua điện thoại, hay nói đúng hơn, thông qua những mẩu tin nhắn có thể nhận được và gửi đi từ bất cứ nơi đâu. Tương tự như các tṛ chơi trực tuyến, độc giả có thể đặt ḿnh vào vị trí nhân vật chính trong câu chuyện. Keitai shousetsu tạo ra không gian riêng cho từng độc giả. Ông Paul Levinson, trong quyển Information on the Move (2004) đă nói rằng: “… Ngày nay, các tác giả có thể sáng tác và các độc giả có thể theo dơi bộ tiểu thuyết gần như vào bất cứ lúc nào và ở bất cứ nơi đâu…” và những tiểu thuyết này không chỉ ‘riêng tư’ mà c̣n ‘di động’.

Keitai shousetsu đang thay đổi thói quen đọc sách của con người; độc giả giờ đây không c̣n phải tự vác thân ḿnh ra cửa hàng t́m một cuốn sách về đọc. Họ chỉ cần một chiếc di động có thể nối mạng, vào các trang web cung cấp dịch vụ, tải về một cuốn tiểu thuyết và đọc trên chiếc di động vào lúc nào họ thích. Giống như e-book, keitai shousetsu có thừa tính tiện lợi.

Giới trẻ Nhật Bản ra đời với chiếc điện thoại trên tay, và chính những chiếc điện thoại đó đă tạo nên một nền văn hoá mới với những ngón tay đua nhau trên bàn phím di động.




Quote:
[The New York Times]
Phát hành January 20, 2008
TOKYO – Cho đến nay, tiểu thuyết trên điện thoại vẫn luôn bị xem là một ḍng văn học phụ không giá trị tại Nhật, vùng đất đă cho ra đời cuốn tiểu thuyết đầu tiên của nhân loại 1000 năm về trước – “Truyền thuyết về Genji” . Mọi chuyện thay đổi khi danh sách những tác phẩm bán chạy nhất năm 2007 được công bố. Năm trên mười tác phẩm đứng đầu là tiểu thuyết trên điện thoại đă cho thấy rằng keitai shousetsu không những đă trở thành món ăn tinh thần cho độc giả Nhật Bản mà c̣n chiếm giữ vai tṛ thống trị. Hơn thế nữa, ba vị trí đầu trong danh sách c̣n bị chiếm giữ bởi một tác giả nghiệp dư vừa vào nghề, gây tranh căi xôn xao trong cả dư luận lẫn báo giới.

“ Liệu keitai shousetsu sẽ ‘giết’ tiểu thuyết gia thực thụ ?” – tạp chí văn học nổi tiếng Bungaku-kai giật tít lớn trên b́a tờ nguyệt san số tháng 1 của họ. Trong khi độc giả hết lời ca ngợi ḍng văn học mới được ra đời và tiêu thụ bởi thế hệ trẻ, những người chỉ thích đọc truyện tranh, th́ các nhà phê b́nh lại lên tiếng phê phán kịch liệt. Họ cho rằng nếu như keitai shousetsu tiếp tục thống trị văn đàn với sự nghèo nàn trong chất lượng th́ nền văn học Nhật Bản sẽ nhanh chóng tiến đến sự suy tàn.

Mặc dù vậy, các tác giả của ḍng tiểu thuyết này vẫn dễ dàng đạt đến con số tiêu thụ sách cao ngất ngưỡng mà các tiểu thuyết gia truyền thống chỉ dám mơ đến.

Rin, cô gái 21 tuổi, tác giả của bộ tiểu thuyết “Nếu anh…” là một ví dụ điển h́nh. Cô đă sáng tác tác phẩm của ḿnh suốt 6 tháng ṛng khi cô c̣n là một nữ sinh trung học. Cô sáng tác bất cứ thời gian nào cô rảnh, hoặc ngay cả khi cô đang làm công việc bán thời gian của ḿnh; ngay khi có ư tưởng, cô viết ra trên chiếc điện thoại của ḿnh và tải lên trang web dành cho các tác giả mới vào nghề.

Sau khi độc giả b́nh chọn tác phẩm của cô cho vị trí cao nhất trên một bảng xếp hạng, tiểu thuyết viết về một câu chuyện t́nh buồn giữa hai người bạn thanh mai trúc mă này ngay lập tức được xuất bản thành sách b́a cứng dày 142 trang. Cuốn sách tính đến nay đă bán được hơn 400,000 bản và đứng thứ 5 trong danh sách các tiểu thuyết bán chạy nhất năm 2007, theo Tohan – một trong những nhà phân phối sách lớn nhất Nhật Bản.

“Mẹ tôi c̣n không biết rằng tôi đă bắt đầu viết tiểu thuyết từ lâu”, Rin cho biết. Giống như những tác giả keitai shousetsu khác, cô lựa chọn cho ḿnh một bút danh ngắn gọn chỉ với một âm tiết. “Vậy nên khi tôi bảo với mẹ rằng tôi sắp xuất bản tiểu thuyết, mẹ tôi vô cùng bất ngờ. Bà đă không tin tôi cho đến khi cuốn sách được xuất bản thật sự và xuất hiện đầy rẫy ở các hiệu sách lớn”.



"Rin cùng với tác phẩm keitai shousetsu của ḿnh"


Keitai shousetsu ra đời tại Nhật vào năm 2000 sau khi trang Web chuyên về thiết kế website - Maho iLand - nhận thấy được trào lưu viết tiểu thuyết trên blog của nhiều blogger. Họ bắt đầu thiết lập những chương tŕnh cho phép người viết có thể tải bài viết của ḿnh lên và người đọc có thể phê b́nh góp ư. Cộng đồng này nhanh chóng nở rộ và tạo ra một ḍng văn học mới rất riêng biệt. Nhưng phải đến 2 - 3 năm sau, trào lưu này mới thật sự trở thành một cơn sốt. Người tham gia ngày một nhiều; cho đến đă có hơn 1 triệu tựa sách được tải lên Maho iLand, theo như số liệu công ty này công bố gần đây.

Và cơn sốt này một lần nữa được hâm nóng khi các công ty mạng điện thoại Nhật Bản quyết định phát triển nâng cấp mạng lưới, cung cấp cho khách hàng dịch vụ lưu truyền khối dữ liệu lớn không giới hạn với cước thuê bao giá rẻ cùng nhiều dịch vụ tiện ích khác. Docomo – công ty truyền thông lớn nhất tại đây – bắt đầu dịch vụ từ giữa năm 2004.

Tính năng của chiếc điện thoại ngày càng được nâng cao, đồng nghĩa với sự ra đời của một thế hệ mới tại Nhật Bản, thế hệ với những chiếc điện thoại di động – thay cho những chiếc máy vi tính - là vật bất li thân của những người trẻ tuổi từ ngày c̣n ngồi trên ghế học đường. Họ chọn đọc tiểu thuyết trên điện thoại di động, mặc dù rằng những trang Web ấy vẫn có thể truy cập được nhờ máy vi tính. Họ lia ngón tay với tốc độ chóng mặt, sử dụng emoticons (biểu tượng thể hiện cảm xúc) – chẳng hạn như các gương mặt cười và h́nh nốt nhạc – để thể hiện cảm xúc. Những điều này gần như đă mất trong quan niệm của những người đă bước qua ngưỡng 25.

“Không phải tự dưng họ có cảm hứng sáng tác và cũng không phải ngẫu nhiên mà điện thoại di động đóng vai tṛ quan trong như vậy”, Chiaki Ishihara, nhà nghiên cứu Văn học Nhật Bản tại Đại học Waseda cho biết. “Thật ra, với mục đích trao đổi thư điện tử, một công cụ hiện đại mang tên điện thoại di động đă được thiết kế với mục đích tạo ra sự tiện lợi trong trao đổi thông tin đă mang đến cho tác giả nguồn cảm hứng sáng tác”.

Quả thật vậy, nhiều tiểu thuyết gia trên điện thoại cho biết họ chưa từng sáng tác tác phẩm nào trước đây, cũng như nhiều độc giả của họ chưa từng đọc một cuốn tiểu thuyết nào cho đến khi keitai shousetsu ra đời.

Các tác giả không được hưởng bất ḱ khoản nào từ tác phẩm online của ḿnh, dù cho tác phẩm ấy có được hàng triệu lượt xem đi nữa. Tiền nhuận bút, nếu có, sẽ chỉ đến tay họ nếu tác phẩm họ sáng tác ra được tái bản và in thành sách. Độc giả có thể truy cập các nguồn tiểu thuyết miễn phí, hoặc thoả thuận một hợp đồng với giá chỉ từ 1 đến 2 Đô-la một tháng. Về phần công ty quản lư Website, họ sẽ thu lợi nhuận của ḿnh bằng h́nh thức nhận quảng cáo cho các công ty và tổ chức.



"Koizora"


Các nhà phê b́nh cho rằng keitai shousetsu có rất nhiều điểm tương đồng với truyện tranh, cũng là một thể loại sách được ưa chuộng bởi giới trẻ. Trong keitai shousetsu, các nhân vật có xu hướng rất hiếm khi được miêu tả kĩ càng cũng như không được phát triển cụ thể cho lắm, và lời thoại thường rời rạc nhưng mang tính đối thoại nhiều hơn tiểu thuyết thường.

“Các tiểu thuyết gia Nhật Bản thường dùng cảnh để tả t́nh”. Ví dụ như, “Đoàn tàu tiến ra từ trong đường hầm dài, lăn những ṿng đầu tiên vào đất nước băng tuyết”; Mika Naito, một tiểu thuyết gia tiềm năng lấy ví dụ từ câu mở đầu nổi tiếng của tác phẩm “Đất nước băng tuyết”.

“Trong keitai shousetsu, bạn không cần như thế. Nếu bạn giới hạn không gian vào một địa điểm nhất định, độc giả sẽ không thể cảm nhận được sự tương đồng giữa nơi họ đứng và nơi chiếc di động của họ đang nói đến".

Do thường được viết theo ngôi thứ nhất nên keitai shousetsu cũng giống như một cuốn nhật kí di động. Hầu hết tác giả là phụ nữ trẻ khát vọng vào những mối t́nh đẹp, những giấc mơ cháy bỏng.

Koizora (Bầu trời t́nh yêu), cuốn tiểu thuyết đầu tay của một cô gái trẻ tên Mika, sau khi được tải lên Maho iLand, tính đến nay đă có hơn 20 triệu lượt độc giả theo dơi trực tuyến. Một câu chuyện t́nh đầy nước mắt với cưỡng dâm, mang thai, t́nh dục vị thành niên và một căn bệnh oái oăm, cuốn tiểu thuyết nhanh chóng thu hút sự quan tâm của giới trẻ. Được in thành sách, cuốn tiểu thuyết đứng đầu bảng xếp hạng các tiểu thuyết bán chạy nhất năm 2007 và sau đó c̣n được dựng thành phim.

Ngày nay, các học giả không c̣n lên tiếng phê b́nh kịch liệt như trước nữa, nhưng một trong số họ vẫn cho rằng keitai shousetsu nên được xem là một thể loại giống như âm nhạc và truyện tranh.

Rin cho rằng, những cuốn tiểu thuyết cổ điển không đáp ứng được thị hiếu của giới trẻ hiện đại.

“ Họ không thích thú với các tác phẩm của các tiểu thuyết gia chuyên nghiệp v́ câu cú của họ thường rất khó hiểu, giải thích dông dài, cũng như cốt truyện không phù hợp với họ”, cô nói. “Mặt khác, tôi cũng hiểu tại sao nhiều người Nhật lại không muốn công nhận keitai shousetsu là một ḍng văn học. Câu chữ vô cùng đơn giản và cốt truyện lại rất dễ đoán trước. Nhưng tôi vẫn mong họ sẽ chóng thay đổi quan điểm của ḿnh”.


"Giới trẻ và chiếc điện thoại di động"

Khi trào lưu này ngày càng bùng nổ, càng ngày càng nhiều người thử khám phá tài năng của ḿnh trên một lĩnh vực mới mẻ này th́ một câu hỏi lớn lại được đặt ra: Liệu một tác phẩm có thể được gọi là keitai shousetsu nêu nó được sáng tác trên máy vi tính thay v́ trên điện thoại ?

“Khi một tiểu thuyết được viết trên máy tính, đặc tính của số lượng ḍng sẽ khác và âm điệu cũng sẽ có sự khác biệt nhất định so với khi viết trên điện thoại cầm tay. Nhiều người hâm mộ sẽ khó có thể chấp nhận gọi đấy là keitai shousetsu” - Keiko Kanematsu, biên tập viên của Goma Books - một công ty chuyên về tái bản keitai shousetsu cho biết.

Mặc dù vậy, có người vẫn cho rằng keitai shousetsu không chú trọng về việc viết bằng thiết bị này hay thiết bị nọ.

Tiểu thuyết gia Naito cũng cho biết rằng, cô viết tác phẩm của ḿnh trên máy tính, sau đó tải vào điện thoại và chỉnh sửa lần cuối trước khi tải lên mạng. Không như những tác giả mới vào nghề ở tuổi teen hay khoảng 20 tuổi khác, cô bảo rằng cô cảm thấy rất thuận tiện khi sáng tác trên máy tính cá nhân.

Nhưng dù sao ít ra cũng đă có một tác giả trẻ tuổi đă có can đảm chuyển sang sáng tác trên máy tính. Một năm về trước, một tài năng mới chớm của Công ty xuất bản Starts, Chaco, đă quyết định ngừng sáng tác trên điện thoại dù cô ấy có thể sáng tác nhanh hơn rất nhiều so với việc sử dụng máy vi tính.

“V́ để sáng tác trên điện thoại, đôi khi cô ấy phải cắt móng tay của ḿnh đến tận da trong và điều đó thường xuyên làm tay cô chớm máu”, đại diện của Starts nói.

“Kề từ khi cô ấy chuyển sang sáng tác trên máy vi tính, vốn từ vựng của cô bỗng trở nên phong phú bất ngờ và câu cú cũng dài hơn trước kia”.


==//==

::::::::::::::::::::::::::::

*Chết ngất*

I am now the happiest girl in the world @____@
Koyato @_____@
Tegomasu @__@
Ryopi @____@

I'll be your fan forever - ever
 
Reply With Quote
The Following 6 Users Say Thank You to rinchan For This Useful Post:
akachan (06-15-2009), Cá Mè (06-16-2009), Carlachan (06-16-2009), foolguy (06-24-2009), wanh96 (06-16-2009), yue (06-17-2009)
Old 07-01-2009, 11:42 PM   #82 Offline
rinchan
Masuda Rin
rinchan's Avatar
Join Date: Apr 2008
Posts: 184
Jai Đẹp: 36
Thanks: 97
Thanked 235 Times in 67 Posts
NOBUTA WO PRODUCE


Phim truyền h́nh Nhật Bản là 1 thể loại rất đa dạng và đă có không ít các siêu phẩm đă góp phần tạo nên sự đa dạng ấy, đưa nền văn hóa Nhật Bản đến gần hơn với bạn bè quốc tế. Ở đây chúng ta sẽ cùng nghía qua 1 bộ phim nằm trong số đó cũng như nhóm nhạc đă đưa bộ phim này lên dẫn đầu các bảng xếp hạng: “Nobuta wo Produce” và “ Shuji to Akira “

“Nobuta wo Produce”, tạm dịch là “Tái tạo Nobuta “ là một bộ phim truyền h́nh ( drama ) của đài truyền h́nh quốc gia NTV của Nhật năm 2005, lên sóng lần đầu vào ngày 15 tháng 10 và kết thúc thành công tốt đẹp vào ngày 17 tháng 12 năm 2005. Bộ drama này dựa trên cuốn tiểu thuyết cùng tên của tác giả Gen Shiraiwa phát hành năm 2004. Dàn diễn viên của Nobuta hội tụ toàn những gương mặt ḱ cựu trong làng giải trí, từ vũ công, người lồng tiếng hoạt h́nh, diễn viên hài cho đến các tài năng lớn của Johnnys’ Entertainment – công ty quản lư hàng đầu Nhật Bản. Kamenashi Kazuya của KAT-TUN đóng vai Kiritani Shuji, một cậu nam sinh trung học hai mặt, lấy cuộc sống làm tṛ chơi thú vị của riêng ḿnh; c̣n Yamashita Tomohisa của NEWS giữ vai cậu học sinh tưng tửng Kusano Akira, người luôn tự nhận rằng Shuji là người bạn thân nhất của ḿnh. Vai em trai của Kiritani cũng do 1 Johnny đảm nhận, đó là cậu bé Nakajima Yuto của Hey! Say! JUMP ( khi đó vẫn c̣n là 1 Johnny Junior )
.

Sơ lược về “Nobuta wo Produce”


Cốt truyện chủ yếu xoay quanh mối quan hệ giữa 3 người bạn thân Kiritani Shuji, Kusano Akira và Nobuko Kotani, học sinh tại một ngôi trường cấp 3. Kiritani, một câu nam sinh nổi tiếng, thân thiện nhưng luôn coi ḿnh là “cái rốn” của vũ trụ, quyết định bắt tay cùng với Kusano để thực hiện một kế hoạch bí mật gọi là “tái tạo lại Nobuta”, sau khi họ gặp Nobuko Kotani, 1 nữ sinh ăn mặc lỗi thời và thoạt nh́n trông rất đáng sợ. Nobuko ( do nữ diễn viên Horikita Maki thủ diễn ) khi vừa chuyển đến ngôi trường mới đă vô t́nh chọc giận các bạn nữ cùng lớp và phải hứng chịu nhiều sự dồn ép từ bạn bè. Không chịu khoanh tay đứng nh́n, đó là lí do Kiritani quyết định “tái tạo” lại Nobuko, biến Nobuko thành một cô gái nổi tiếng, ai ai cũng muốn làm bạn.
Bộ phim nằm trong sê-ri phim truyền h́nh tối thứ bảy, phát sóng lúc 9 giờ, bao gồm 10 tập phim chiếu liên tục gần 3 tháng, một chương tŕnh pre-show và một chương tŕnh after-show đặc biệt. Chương tŕnh pre-show, hay c̣n gọi là tập 0 của phim, được chiếu 5 giờ đồng hồ trước khi tập 1 bắt đầu, nhằm giúp khán giả có được 1 cái nh́n rơ hơn về cốt truyện cũng như thu hút thêm lượng khán giả theo dơi.Chương tŕnh này preview một số cảnh trong phim nhằm thu hút sự ṭ ṃ của người xem, phỏng vấn các diễn viên sau cánh gà và tṛ chơi giữa họ với nhau, được chủ tŕ bởi Kamenashi Yamashita. Chương tŕnh after-show được chiếu trên chương tŕnh “ Oshamanpou “ sau khi sê-ri kết thúc. Không khai thác câu chuyện xảy ra sau kết thúc ở tập cuối như chương tŕnh after-show của các phim khác, after-show của “Nobuta wo Produce” chủ yếu phỏng vấn lại các diễn viên, chiếu lại 1 số cảnh trong phim và một lần nữa, tṛ chơi giữa các thành viên của đoàn.

Theo Kamenashi Yamashita, “Tái tạo Nobuta” không dễ dàng như họ vẫn nghĩ, và họ đă có một trách nhiệm rất lớn trong việc đưa bộ drama trở nên phổ biến như vậy. Không chỉ hát nhạc nền cho phim, họ c̣n thành lập một nhóm nhạc tạm thời lấy tên là Shuji to Akira ( tên nhân vật trong phim của họ ) để quảng bá cho phim trong suốt quá tŕnh sản xuất và lên sóng. Họ họp báo chính thức công bố sự thành lập của nhóm vào ngày 13 tháng 10 năm 2005 và trong nhiều tháng sau đó, Shuji to Akira xuất hiện trên xấp xỉ 50 show truyền h́nh, mà hơn 1 nửa trong số đó là các chương tŕnh như “Zoom In”, "Zoom In Super" và "Zoom In Saturday” ( “Zoom in” là một chương tŕnh tổng hợp phổ biến chiếu trên đài Nippon, gồm nhiều phiên bản khác nhau chiếu luân phiên trong suốt 1 tuần ). Tuy nhiên, họ không biểu diễn ca khúc của ḿnh trên show này mà chỉ chú yếu trả lời phỏng vấn và dạy nhảy. Ngoài ra họ cũng là những gương mặt quen thuộc trên các show như “ DoraDora”, “Naru Tomo” và “Oshamanpou “.

Trước đó, vào mùa hè, đoàn làm phim c̣n tổ chức 1 cuộc thi toàn quốc nhằm tạo cơ hội cho mọi người dân Nhật Bản có thể làm cơm hộp bento ( cơm trưa kiểu Nhật, đặt trong hộp và trang trí bắt mắt ) để Kamenashi sử dụng trong quá tŕnh làm phim. Cuối cùng, vào ngày 19 tháng 8, họ quyết định chọn Inoue Harumi, một nội trợ ở tỉnh Saitama trong số 1025 người tham dự, và cơm hộp của cô đă được sử dụng trong tập 2 của sê-ri. Chưa dừng ở đó, khi công bố người thắng giải, Yamashita cắt ngang và cho rằng nên có thêm 1 người nữa thắng giải để tăng thêm tính hấp dẫn của cuộc thi, và sau đó tự thành lập “Giải thưởng Yamashita “. Anh chọn thêm Hagiwara, một nội trợ cũng đến từ Saitama và cơm hộp của cô đă được Yamashita dùng trong tập 8. Qua đó, khán giả càng dễ nhận ra rằng, tính cách của Kusano và của Yamashita ngoài đời thực gần như là một. Mọi người đều khẳng định rằng, không ai có thể diễn vai Kusano Akira tốt hơn anh chàng Yamashita Tomohisa này.

Mặc dù vô cùng bận rộn với lịch đóng phim và quảng cáo, Yamashita Kamenashi vẫn không lơi là trách nhiệm đối với nhóm nhạc của chính ḿnh. Suốt mùa thu, Kamenashi đă phải chạy ngược xuôi đóng quảng cáo cho KAT-TUN, khi mà thời điểm KAT-TUN chính thức ra mắt khán giả đang gần kề. Công việc bận rộn túi bụi đến mức trên 1 chương tŕnh phỏng vấn, anh đă bảo rằng ḿnh không có cả thời gian để suy nghĩ kĩ về tập 4 của phim. Trong khi đó, với vai tṛ là trưởng nhóm, Yamashita đă phải lèo lái NEWS vượt qua scandal sau khi thành viên Uchi Hiroki bị phát hiện uống rượu dưới tuổi cho phép vào tháng 7, cùng thời gian với buổi họp báo công bố sản xuất phim “Nobuta”.


Thành công của Nobuta


Mọi công sức của 2 chàng trai và đoàn làm phim cuối cùng đă được đền đáp xứng đáng, khi “Nobuta wo Produce” kết thúc tốt đẹp với tỷ suất xem đài trung b́nh là 16.89%. Ở tập cuối, tỷ suất tăng cao chạm ngưỡng 18.2%

Tại hầu hết các quốc gia trên khắp thế giới, tỷ suất chủ yếu dùng để đánh giá năng suất của 1 đoàn làm phim, nhưng tại Nhật, tỷ suất này c̣n giúp khán giả có thể lựa chọn chương tŕnh để xem trong số hàng trăm chương tŕnh phát sóng liên tục hàng ngày.Không có bất cứ một yếu tố nào đảm bảo tỷ suất cao thấp cho 1 chương tŕnh, v́ thế chương tŕnh nào kết thúc với con số cao, chương tŕnh đó nghiễm nhiên được xem là người “chiến thắng” và sẽ có thêm nhiều người xem hơn nữa

Mùa thu 2005, Nobuta đứng hạng 5 trên bảng xếp hạng 15 drama hay nhất, xếp sau “Hana Yori Dango” hạng 1 với tỷ suất 19,67%; “Yoshitsune” hạng 2 với 19,42%; “Jukunen Rikon” hạng 3 với 19,19% và “Kinen na Akenki” hạng 4 với 18,78%.

“Nobuta wo Produce” chiến thắng vẻ vang tại buổi lễ trao Giải thưởng phim truyền h́nh của Viện hàn lâm Nhật Bản lần thứ 47, giành một loạt các giải Phim truyền h́nh xuất sắc nhất, Nhạc phim xuất sắc nhất, Kịch bản hay nhất và Đạo diễn xuất sắc nhất. Chưa dừng lại ở đó, Kamenashi Horikita cũng trở về với hai giải Nam và Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất trên tay. Yamashita cũng không kém cạnh, thu về cho ḿnh giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất của Giải thưởng phim truyền h́nh Nikkan Sports mùa thứ 9, đúng như giới truyền thông đă dự đoán trước đó. Sau “Nobuta”, sự nghiệp của 3 người lên như diều gặp gió,. Bằng chứng là Horikita, chỉ trong 2008, cô đă diễn tới 5 bộ drama vă hứa hẹn vẫn c̣n nhiều phim khác nữa sẽ ra mắt trong năm 2009 này.

“Nobuta wo Produce” chính thức được phát hành ra bản DVD vào ngày 5 tháng 4 năm 2006 gồm nhiều đĩa bao gồm cả những cuộc phỏng vấn và những chương tŕnh phụ khác đi kèm. Tất cả được bán ra thị thường trong 1 chiếc hộp đặc biệt mang đậm chất “Nobuta”. Và mặc dù cả DVD và cuốn tiểu thuyết nguyên tác đều không được phát hành thêm phiên bản tiếng anh nhưng bộ phim đă nhanh chóng được bạn bè quốc tế biết đến. Bộ phim được nhiều nhóm fansub trên thế giới làm phụ đề và phiên dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau, đem đến cho mọi người tiếng cười và 1 cái nh́n vào xă hội nước Nhật hiện đại, 1 đất nước ôn ḥa và tinh tế.


Shuuji to Akira


Seishun Amigo, nhạc nền của bộ phim, chính thức được phát hành thành single vào ngày 2 tháng 11 năm 2005 dưới mác công ty Johnny Entertainment và được tŕnh bày bởi Shuji to Akira. Single có 3 bài hát, gồm 2 phiên bản: phiên bản Limited edition được kèm theo 1 booklet đặc biệt 12 trang, c̣n phiên bản Regular Edition có thêm phiên bản karaoke cho các bài hát mà Limited Edition không có. Seishun Amigo là sự hợp tác giữa Yamashita Kamenashi, trong khi 2 bài hát c̣n lại là solo của mỗi người, Colorful của Yamashita và Kizuna của Kamenashi. Cả 2 bài đều là nhạc nền phim mà mỗi người từng đóng, như Colorful hát cho drama “Dragon Zakura” và Kizuna là bài hát chính thức của “Gokusen 2”.

Sau đó họ phát hành PV Seishun Amigo, một phiên bản cận cảnh hơn cho các điệu nhảy mà họ đă tŕnh diễn trên truyền h́nh. Số báo tháng 11 của tạp chí TV Guide đă dành hẳn một chuyên mục của ḿnh để giới thiệu các điệu nhảy đó một cách chi tiết. Shuji to Akira cũng xuất hiện trên nhiều chương tŕnh như “Zoom in”, “Rajikaru” để hướng dẫn trực tiếp các điệu nhảy cho khán giả truyền h́nh. Bài hát cũng không chỉ giới hạn trong drama Nobuta wo Produce. Mùa hè năm 2006, tập 3 của drama “Sapuri” cũng đă đề cập đến ca khúc nổi tiếng này, khi nhân vật do Kamenashi đóng tṛ chuyện với 1 đồng nghiệp và trích lại lời bài hát.

Chỉ trong ṿng 1 tuần tính từ ngày phát hành, Seishun Amigo nhảy vọt lên vị trí đứng đầu bảng xếp hạng Oricon của Nhật với hơn 100 ngàn bản được tiêu thụ chỉ trong ṿng 4 ngày. Đến cuối tháng 11, hơn 1 triệu bản đă được bán ra. Seishun Amigo nằm trên bảng xếp hạng liên tục 34 tuần và trở thành single bán chạy nhất của năm tại Nhật dù được phát hành khá trễ, đồng thời cũng là single bán chạy thứ 3 của năm 2006 trên bảng xếp hạng 999 singles của Oricon. Trên 1 chương tŕnh tivi, Shuji to Akira đă nói rằng chính họ cũng không ngờ bài hát sẽ trở thành hit đến như vậy. Seishun Amigo nhận danh hiệu Single xuất sắc năm 2005 tại Nhật, và đến tháng 1 nam 2006, single được phát hành tại Thụy Điển và lọt vào top 50 trên bảng xếp hạng âm nhạc.

Do sự thành công vượt bậc của Seishun Amigo, Shuji to Akira nhận được rất nhiều lời đề nghị biểu diễn từ các chương tŕnh khác nhau. Họ biểu diễn lần đầu trên chương tŕnh “Utawara Hot Top 10” vào ngày 23 tháng 10 năm 2005, chỉ khoảng 1 tuần sau khi tập 1 được phát sóng. Cùng thời gian đó, họ cũng biểu diễn trên 2 show âm nhạc lớn là “Utaban” và “Music Station”, giúp bài hát đă nổi nay càng nổi hơn.

Tuy nhiên, khi biểu diễn trên “Music Station”, Kamenashi đă vô t́nh hát nhầm lời và thốt lên “Ôi không!” ngay khi nhận ra, khiến khán giả toàn quốc ngỡ ngàng và không khỏi buồn cười khi nh́n thấy phản ứng của anh.

Đầu tháng 11, họ xuất hiện trên “ Hey! Hey! Hey! Music Champ “ – cũng là 1 show âm nhạc lớn – và thêm 2 lần nữa trên “Music Station”. Lần thứ 2 này, họ biểu diễn tại sảnh Makuhari Messe tại Chiba trước 200 fan cuồng nhiệt và lần thứ 3 biểu diễn lại theo yêu cầu của khán giả. Cuối tháng 11, họ diễn thêm 2 lần, và vào ngày 3 tháng 12, họ hát phiên bản nhẹ của Seishun Amigo trên chương tŕnh đặc biệt kỉ niệm show thứ 500 của chương tŕnh Zoom in. Cuối tháng 12, một lần nữa họ lại tái hợp và góp mặt lần thứ 4 trong chương tŕnh “Music Station”. Đêm giao thừa, họ biểu diễn tại chương tŕnh Johnnys’ Countdown thường niên của Johnnys’ Entertainment.

Nobuta kết thúc nhanh chóng vào cuối tháng 12 nhưng hoạt động của Shuji to Akira th́ vẫn chưa dừng ở đó. 18 tháng 3 năm 2003, họ trở lại và biểu diễn 1 lần nữa, để rồi đến mùa hè, góp mặt trên chương tŕnh “Jikan Terebi “ – 1 chương tŕnh từ thiện kéo dài suốt 24 giờ thường niên nhằm quyên góp cho cộng đồng và những người khuyết tật. Đây cũng là buổi biểu diễn cuối cùng trước khi Shuji to Akira chính thức đi vào tạm ngừng hoạt động. Từ năm 2006 đến nay họ vẫn chưa tái hợp chính thức, nhưng trong cả hai chương tŕnh Johnnys’ Countdown 2007 và 2008 họ đều biểu diễn Seishun Amigo, dù chỉ một thoáng nhưng vẫn giúp cho mọi người nhớ lại 1 thời huy hoàng của Shuji to Akira.

Ngày nay, “Nobuta” đă được rất nhiều người quốc tế biết đến qua các phương tiện truyền thông như báo đài, tivi, radio và v́ thế sức hấp dẫn của Shuji to Akira cũng như Seishun Amigo vẫn chưa nguội. Dù thời gian 2 nghệ sĩ cùng hợp tác với nhau đă qua lâu nhưng chúng ta vẫn có thể hi vọng một ngày nào đó họ sẽ tái hợp và trông chờ vào những ǵ họ sẽ làm tiếp theo.

::::::::::::::::::::::::::::

*Chết ngất*

I am now the happiest girl in the world @____@
Koyato @_____@
Tegomasu @__@
Ryopi @____@

I'll be your fan forever - ever
 
Reply With Quote
The Following 2 Users Say Thank You to rinchan For This Useful Post:
akachan (07-02-2009), Ciel (06-24-2011)
Old 07-02-2009, 12:07 AM   #83 Offline
rinchan
Masuda Rin
rinchan's Avatar
Join Date: Apr 2008
Posts: 184
Jai Đẹp: 36
Thanks: 97
Thanked 235 Times in 67 Posts
PHIM TRUYỀN H̀NH NHẬT BẢN


Trong thế giới giải trí, có một sự thật hiển nhiên rằng điện ảnh luôn đi đôi với âm nhạc. Mặc dù vậy, ở Nhật, mối quan hệ giữa hai lĩnh vực này đang ngày càng được thắt chặt hơn qua sự liên kết của phim truyền h́nh Nhật Bản.

Phim truyền h́nh Nhật Bản là ǵ?

Truyền h́nh Nhật Bản, tiếng Nhật là Dorama (bắt nguồn từ chữ drama – là phim truyền h́nh chứ không phải kịch sân khấu), tiếng Anh gọi là J-Drama, là một trong những chương tŕnh được sản xuất nhiều và phổ biến nhất trên truyền h́nh Nhật. Phim truyền h́nh có rất nhiều chủ đề, mà chiếm đa số là "ren'ai" (đề tài t́nh yêu) trong các bộ phim t́nh cảm lăng mạn. Bên cạnh đó c̣n thể loại hành động, phim hài, hồi hộp, tội phạm… tựu chung lại là "human drama" (c̣n được gọi là phim tâm lư xă hội hoặc phim gia đ́nh). Thể loại này thường xoay quanh mối quan hệ học đường, công sở (nghề nghiệp), bạn bè, vấn đề tài chính (nôm na gọi là cơm áo gạo tiền) và cuộc sống thường nhật.

Hầu hết phim truyền h́nh Nhật được phân loại "renzoku" (tiếng Anh là drama-series, tiếng Việt là phim truyền h́nh dài tập ). Renzoku dramas được gói gọn trong một mùa (xuân - hạ - thu – đông theo cách tính của người Nhật). Nói cách khác là một quư. Đầu tiên là mùa đông (từ tháng 1 đến tháng 3), mùa xuân (tháng 4-6), mùa hạ (tháng 7-9) cuối cùng là mùa thu (tháng 10-11). Mỗi tuần sẽ chiếu 1 tập (1 ep), nên trung b́nh một phim có độ dài 11 tập, thi thoảng là 6,7,8,9 hoặc 12, gói gọn trong 3 tháng, chia làm 4 mùa phim. Một mùa có khoảng 15-20 phim. Cũng có một số phim có số tập ít hơn, nguyên nhân là do đề tài kén người xem, kinh phí thấp hoặc rating quá thấp nên bị cắt. Có một số phim nếu rating cao sẽ có thêm phiên bản movie và special nối tiếp diễn biến của tập phim cuối (VD Proposal Daisakusen), cũng có khi là tóm tắt lại phim (VD Sekai no Chuushin de Ai wo Sakebu), có trường hợp là câu chuyện xảy ra trước đó (VD Galileo, Tantei Gakuen Q). Có khi, các phim nhận được phản hồi tốt sẽ kéo dài thêm một mùa phim kế tiếp nữa, hoặc những phim có đề tài lịch sử như của NHK sẽ kéo dài nhiều mùa phim liên tiếp. Không nói ra th́ không ai biết, cũng như nhiều nước phương Tây khác, phim truyền h́nh dài tập được chia theo mùa. Không phải người Nhật không làm phim dài lê thê, nhưng những phim đó chủ yếu hướng tới các khán giả lớn tuổi và thường kéo dài nguyên năm. Một thể loại khác được gọi là "tanpatsu" , tiếng Anh là "one-shots" hoặc special drama, có độ dài 2 giờ. Nó có 2 dạng, 1 là một drama riêng biệt có độ dài 1 tập, có khi 2-3 tập, 2 là phần phim nối tiếp renzoku và kết thúc câu chuyện trong 1 tập phim. Thể loại này bên TVB Hồng Kông gọi là phim điện ảnh truyền h́nh, Việt Nam ḿnh gọi là phim lẻ. Special drama được chào đời nhân một sự kiện, một dịp kỷ niệm nào đó.

Những người hoạt động âm nhạc tham gia phim truyền h́nh Nhật

Phim truyền h́nh giống như một cuộc sống thu nhỏ vậy. Nó cũng mở ra nhiều cơ hội cho các nghệ sĩ âm nhạc có thể chứng minh tài năng của họ dù cho họ đang có một lịch tŕnh bận rộn. Đương nhiên không có ǵ bảo đảm cho sự thành công đó. Không có ǵ lạ khi có một nghệ sĩ nào đó b́nh quân một năm lại xuất hiện trên phim truyền h́nh vài lần. Phần lớn đó là những vai ít đất diễn, nhất là khi họ đang chỉ mới bắt đầu sự nghiệp của ḿnh.

Là người biểu diễn trên sân khấu, việc các nghệ sĩ lấn sân sang lĩnh vực truyền h́nh thật ra cũng chả khác diễn viên thực thụ là mấy. Họ diễn xuất như một diễn viên, họ cũng thích ứng với một trong nhiều vai tṛ và thường xuyên thay đổi thể loại vai diễn. Đặc biệt là khi họ tham gia một bộ phim có đề tài âm nhạc, họ lại càng có lợi thế. Lúc đó tài nâng của họ càng nổi trội hơn. Một số trường hợp tiêu biểu là "NANA," "Mukodono", "Nodame Cantabile", "Rockers" và "Taiyou no Uta".

Việc lấn sân như vậy tạo hiệu quả gấp 3 lần so với hoạt động riêng biệt trên một lĩnh vực. Fan hâm mộ rất thích thú chờ đón thần tượng của họ thử sức trong một lĩnh vực mới, thúc đẩy rating phim tăng vọt, giúp tăng doanh thu cho nghệ sĩ từ các lời mời và hợp đồng quảng cáo. Và trong nhiều trường hợp, mở rộng thị trường hoạt động và tiêu thụ của người nghệ sĩ và cả ban nhạc mà họ tham gia. Với sự hỗ trợ, khán giả truyền h́nh của mọi lứa tuổi đều yêu thích cả hai khía cạnh của truyền thông và trở nên thân thuộc không những với các nghệ sỹ mà họ yêu thích, mà c̣n cả với các ngôi sao đang lên của Nhật.

Các chương tŕnh quảng cáo cũng xuất hiện xen kẽ giờ chiếu phim, v́ các kênh truyền h́nh và công ty quản lư có thể thu lợi từ sự nổi tiếng của nghệ sĩ thông qua các chiến dịch quảng cáo cho bộ phim sắp phát sóng. Ngoài ra, không hiếm các trường hợp phim phát sóng sử dụng một ca sĩ hay một ban nhạc trong cùng công ty để tŕnh bày ca khúc trong phim (VD như phim Osen có Uchi Hiroki đóng, nhạc cuối phim là bài Koiuta do Tackey & Tsubasa – cùng công ty với Hiroki tŕnh bày, hoặc hầu hết các bộ phim có thành viên của nhóm KAT-TUN đóng đều có nhạc phim do KAT-TUN thể hiện). Trong trường hợp này, các diễn viên thường được mời tham dự chương tŕnh tṛ chuyện trên ti vi để tuyên truyền phim có thể được yêu cầu tŕnh bày ca khúc phim.

Âm nhạc có ảnh hưởng đến tỷ suất xem đài?

Ở nhiều quốc gia, tỷ suất bạn xem đài giúp nhà đài và đơn vị chế tác phân tích mức hấp dẫn của một chương tŕnh truyền h́nh. Ở một số nước, như Hồng Kông, tỷ suất bạn xem đài được tính bằng cứ bao nhiêu người xem chương tŕnh đó th́ sẽ đạt được bao nhiêu điểm, c̣n những quốc gia như Hàn Quốc, Nhật Bản, tỷ suất xem đài được tính bằng %, tức là khi một bộ phim đạt tỷ suất 20%, nghĩa là cứ 100 người bật ti vi th́ có 20 người xem chương tŕnh đó. Với cách tính này, thật khó nói rằng đang là mùa du lịch, dân t́nh bận đi chơi, hoặc không phải giờ vàng để an ủi một bộ phim có rating thấp, thực tế chỉ là không ai hứng thú xem nó mà thôi. Tỷ suất thấp thường dẫn đến việc ngưng ngang chương tŕnh để thay bằng những chương tŕnh khác hấp dẫn hơn. VD 1 bộ phim thường dài 11 tập, mà đột ngột chỉ c̣n 6-7 tập th́ có nghĩa là nó đă bị cắt xén cho mau hết. Tương tự, chương tŕnh Ogosho Japan rating không khả quan chỉ khoảng 5% nên chỉ sau vài tháng cũng dẹp luôn.

Tại Nhật, tỷ suất này cũng có vai tṛ tương tự nhưng có thêm một số lợi ích nữa, chẳng hạn như giúp bạn xem đài có thể chọn lọc chương tŕnh để theo dơi. Không có một yếu tố nhất định nào quyết định tỷ suất cho một chương tŕnh TV, do đó con số này không quyết định chương tŕnh đó hấp dẫn hay thú vị một cách hoàn toàn chính xác. Suy cho cùng, con số này có được nhờ vào thị hiếu của số đông khán giả, cho mọi người biết được chương tŕnh nào đang được nhiều người quan tâm.

Tỷ suất xem đài thường được thống kê theo 3 khu vực: Kanto, Kansai và Toàn quốc; tuy nhiên con số ở Kanto – bao gồm Tokyo và các vùng lân cận – là được công chúng quan tâm hơn cả. Mỗi vùng sẽ có một bảng xếp hạng tỷ suất xem đài riêng để tổng kết mức độ phổ biến của một bộ phim, không phân biệt drama nói chung hay renzoku drama nói riêng.

V́ vậy, khi một khán giả muốn dựa vào tỷ suất để chọn lọc phim th́ việc đầu tiên người đó phải làm là phải xác định được con số mà họ quan tâm thuộc vùng nào. Một bộ phim thông thường sẽ có tỷ suất vào khoảng 15-19%. Rất hiếm khi lên đến được con số 25%; tuy nhiên như thế không có nghĩa là không có khả năng đạt đến con số 30% tṛn trĩnh. Dưới 10% thường là những drama không đáng xem nhưng dĩ nhiên vẫn có ngoại lệ. Một dẫn chứng thuyết phục là bộ drama “Kami no Shizuku”. Khởi chiếu từ đầu tháng 01.2009 với rating thấp lè tè ở 6.1% nhưng bộ phim đă giật một lúc 2 giải dành cho “Phim truyền h́nh hay nhất” và “Nam diễn viên chính xuất sắc nhất” của giải thưởng danh giá Winter Grand Prix mùa giải 2008-2009. Để chứng minh cho tính thiết thực của tỷ suất th́ có lẽ bấy nhiêu vẫn chưa đủ. Một điều nữa mà không phải ai cũng biết là khi có tỷ suất cao, bộ phim sẽ nghiễm nhiên được công nhận là phổ biến. Tỷ suất càng cao, bộ phim càng có cơ hội thu hút được nhiều người xem cho các tập phim c̣n lại.

Vậy liệu âm nhạc có thực sự gây ảnh hưởng đến tỷ suất không?

Câu trả lời là .

Theo con số thống kê vùng Kanto từ năm 2005 đến nay, tỷ suất của những bộ phim có sự góp mặt của các ca sĩ thường cao hơn hẳn những bộ phim khác. Đặc biệt sự góp mặt của các nghệ sĩ trực thuộc Johnny’s Entertainment c̣n làm cho tỷ suất tăng vọt một cách chóng mặt, đem đến cho bộ phim nhiều cơ hội thắng lợi ở các giải thưởng lớn có uy tín. Trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến 2009, các bộ phim có ca sĩ tham gia đă có 9 mùa giải dẫn đầu bảng xếp hạng của cả 3 vùng và có 6 mùa giải có ít nhất 1 phim nằm trong top đầu.

Các công ty trong ngành giải trí

Nhật Bản có rất nhiều công ty chuyên ngành giải trí tiếng tăm. Sau đây là một số công ty nổi tiếng hoạt động đồng thời trên cả 2 lĩnh vực điện ảnh - truyền h́nh và đang dẫn đầu trong hoạt động công nghiệp giải trí Nhật Bản.

AMUSE: Là một trong những công ty quản lư nổi tiếng nhất tại Nhật, Amuse được thành lập vào năm 1978. Sau hơn 1 thập niên hoạt động, công ty này đă trở thành cái nôi đào tạo của rất nhiều thế hệ nghệ sĩ bậc nhất xứ hoa anh đào với 11 công ty con và 2 chi nhánh. Ngoài ra công ty này c̣n thu hút sự chú ư và đầu tư của các nhà kinh tế nước ngoài thông qua trang web tiếng Anh chính thức của ḿnh.

EVER GREEN Entertainment: Thành lập năm 2002, EVER GREEN Entertainment chủ yếu tập trung vào lĩnh vực điện ảnh. Họ đă đào tạo được nhiều thế hệ nghệ sĩ nữ nhưng hiện chỉ có 7 nghệ sĩ nam.

FLaMme: Với slogan “Chúng ta sẽ tỏa sáng cùng FLaMme”, mặc dù có quy mô nhỏ hơn các công ty khác nhưng FLaMme đang có những bước tiến đáng kể với 12 nữ nghệ sĩ tài năng được đào tạo kỹ lưỡng từ năm 2000 đến nay.

HORIPRO: Mục tiêu của HORIPRO là “Khai phá những bước đi mới trong văn hóa và giải trí, đem nguồn cảm hứng đến cho mọi người” và họ đă, đang và sẽ làm được. Được sáng lập năm 1960, sự thành công của họ càng ngày càng tăng qua những hoạt động đào tạo nhiều tài năng lớn, đầu tư vào ngành giải trí và nền kinh tế quốc gia…

Johnny & Associates:Tập đoàn Johnny được thành lập vào năm 1962 với thị trường chủ yếu là âm nhạc trước khi lấn sân sang lĩnh vực truyền h́nh. Sau nhiều thập niên hoạt động, công ty này đă tạo được một khái niệm về “Các tài năng Johnny” sau khi rất nhiều thần tượng của công ty trở thành những nghệ sĩ thành công nhất Nhật Bản.

SONY: Không chỉ nổi tiếng là một đại gia trong ngành điện tử, SONY c̣n mở rộng thị trường của ḿnh và giờ đây đă bao trùm gần như toàn bộ mọi ngóc ngách của ngành công nghiệp giải trí, kể cả việc săn lùng và đào tạo những con người có tố chất nghệ sĩ. Là tổ chức liên doanh giữa tập đoàn SONY và công ty thu âm CBS từ năm 1968, tên tuổi của công ty đă lan rộng ra khắp thế giới và đóng góp một phần không nhỏ trong công cuộc xây dựng ngành giải trí ở đất nước mặt trời mọc này.

SUN MUSIC PRODUCTION: Thành lập năm 2001, SUN MUSIC chủ yếu đào tạo các nữ nghệ sĩ nhưng ngoài ra cũng có nam nghệ sĩ và diễn viên truyền h́nh, điển h́nh là IZAM Matsuda Satoshi.

Watanabe Productions: Watanabe Productions thành lập năm 1995 và đă phát triển thành nhiều công ty con trong ngành giải trí Nhật Bản hiện nay. Watanabe Productions được biết đến nhiều nhất với vai tṛ là công ty quản lư của nhóm D-boys ( viết tắt của từ Drama boys) và là một trong những công ty quản lư có quyền lực nhất tại Nhật.

Những nghệ sĩ toàn năng nổi tiếng

Con số các nghệ sĩ hoạt động đồng thời ở cả 2 lĩnh vực rất lớn, ở đây chúng ta sẽ cùng điểm một lượt các nghệ sĩ thành công nhất, những người mà thành tựu của họ đă để lại dấu ấn không nhỏ trong lịch sử ngành công nghiệp giải trí của nước Nhật.

Amuse Group

Miura Haruma: Chỉ đến khi Bloody Monday chính thức lên sóng với vai chính là Miura th́ tên tuổi của anh mới thật sự được toàn thế giới biết đến. Từng hát chính trong tam ca BRASH BRATS, sau khi nhóm nhạc này ngừng hoạt động, Miura tập trung nhiều sức lực cho mảng điện ảnh và đă góp mặt trong rất nhiều phim nổi tiếng, trong đó có cả “Koizora”, “Crows Zero II”,”Gokusen III”, “Binbo Danshi” v.v… Năm 2007, Miura được trao tặng giải thưởng dành cho nam diễn viên mới xuất sắc nhất của Viện Hàn lâm Nhật Bản.

EVER GREEN Entertainment

Teppei Koike: Là thành viên của đôi song ca WaT, Teppei bắt đầu sự nghiệp diễn xuất của ḿnh từ năm 2002 và thường xuyên xuất hiện trên bảng xếp hạng các nam diễn viên nổi tiếng nhất. Vai diễn thành công nhất của anh là Otani trong bộ phim điện ảnh nổi tiếng “Lovely Complex”. Bộ phim đă trở thành cơn sốt và c̣n được công chiếu tại Mỹ. Một số phim khác của anh là “Gokusen II” và “Waterboys II”. Năm 2007, Teppei cho ra mắt sản phẩm solo đầu tiên của ḿnh.

FLaMme

Hirosue Ryoko: Bắt đầu diễn xuất từ 1995 và ca hát từ 1997, tài năng của Hirosue ngày càng chắp cánh bay cao, và ngày nay cô được biết đến là một trong những nghệ sĩ tài hoa nhất nước Nhật. Tính đến nay, Hirosue đă đạt được ít nhất 12 giải thưởng , bao gồm các giải “Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất” và “Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất” của giải thưởng Phim truyền h́nh của Viện hàn lâm Nhật. Hirosue đă tham gia hàng chục bộ drama, điển h́nh là “Summer Snow”, "Himitsu", "Tokyo Tower", "Galileo", "Yasuko to Kenji" và "Triangle."

HORIPRO

Fukada Kyoko: Fukada bắt đầu sự nghiệp diễn xuất của ḿnh trước khi chính thức ra mắt với vai tṛ một ca sĩ vào năm 1999. Fukada đă tham gia diễn xuất trong 40 bộ phim từ năm 1997, trong đó có "Fighting Girl," "Strawberry on the Shortcake" và "Xmas Nante Daikiai”. Cô bắt đầu được nhiều người biết đến qua các giải thưởng Phim truyền h́nh Nhật Bản lần thứ 18 và 22 với các vai diễn trong “To Heart” và "Kamisama Mou Sukoshi Dake”. Gần đây cô đă xuất hiện trong bộ drama “Galileo” của đài Asahi (2007) và phim điện ảnh Yatterman (2009) cùng với Sakurai Sho, thành viên nhóm nhạc Arashi.

Tsumabuki Satoshi: Ngoài công việc là tay bass và hát chính của basking lite, Tsumabuki c̣n có một sự nghiệp diễn xuất ấn tượng kể từ năm 1998 và đă tham gia hàng loạt bộ drama đ́nh đám như “Lunch Queen”, "Ikebukuro West Gate Park", "Kisarazu Cats Eye” v.v… Anh được trao giải Nam diễn viên xuất sắc nhất của giải thưởng Phim truyền h́nh Nhật Bản mùa thứ 37 với bộ phim “ Blackjack ni Yoroshiku”, để rồi sau đó trở lại ở mùa thứ 41 với bộ phim “Orange Days”.

Johnny & Associates

Akanishi Jin: Là một tài năng lớn của [B]Johnny [/B]& Associates, đồng thời là một trong những giọng hát chính của nhóm nhạc KAT-TUN, Akanishi đă chứng tỏ thực lực của ḿnh một cách đầy thuyết phục khi anh thắng giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất của giải thưởng phim truyền h́nh Nikkan Sports lần thứ 11 vào năm 2007 với bộ drama “Yukan Club”. Akanishi luôn giữ vai chính trong hầu hết mọi phim anh tham gia, bao gồm cả “Anego”, “Xmas nante Daikirai” và “Gokusen”.

Domoto Koichi: Koichi là một trong 2 thành viên của KinKi Kids, bắt đầu diễn xuất trong bộ phim đầu tiên vào năm 1994 có tên gọi “Ningen Shikkaku”. Năm 2003, anh đạt danh hiệu Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất cho vai diễn trong phim Remote cho cả Giải thưởng phim truyền h́nh Nikkan Sports mùa thứ 6 và Giải thưởng phim truyền h́nh của Viện hàn lâm Nhật Bản mùa thứ 35. Hoạt động đồng thời ở cả hai lĩnh vực, Koichi đă tham gia trên dưới 20 bộ drama và trở thành một trong những cái tên được biết đến nhiều nhất của nền công nghiệp giải trí Nhật Bản.

Domoto Tsuyoshi: Thành viên thứ 2 của KinKi Kids, Tsuyoshi đóng phim lần đầu vào năm 1994 cùng với Koichi trong “Ningen Shikkaku”. Bộ phim đă mang đến cho anh giải Gương mặt mới triển vọng của Giải thưởng phim truyền h́nh Viện hàn lâm Nhật Bản. Sự nghiệp của anh không chỉ dừng lại ở đó; tính đến thời điểm này, anh đă tham gia một lượng lớn drama, tiêu biểu là “Mukodono 2003” và “Second Chance”. Năm 1998, anh đạt giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất với 2 bộ drama “To Heart” và “Ao no Jidai”. Năm 2000, một lần nữa anh lại đăng quang với “Summer Snow”.

Kamenashi Kazuya: Kamenashi ( KAT-TUN ) đă có một khởi đầu tốt đẹp với bộ phim đầu tiên của ḿnh vào năm 1999; sự nghiệp và tài năng của anh sau đó đă lên như diều gặp gió. Kamenashi giành được danh hiệu Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất ở cả 2 giải thưởng danh giá vào năm 2004 với vai diễn trong “Gokusen”. Năm 2005, anh đoạt giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất của Giải thưởng phim truyền h́nh Viện hàn lâm Nhật Bản mùa thứ 47 với “Nobuta wo Produce”. Tài năng của anh tiếp tục được tỏa sáng qua các bộ drama như “Tatta Hitotsu no Koi” và “One Pound Gospel”. Ở giải thưởng Winter Grand Prix, một lần nữa anh lại đoạt được giải cao nhất với bộ phim “Kami no Shizuku”.

Katori Shingo (hay c̣n gọi là Shingo Mama): Là thành viên của nhóm nhạc nổi tiếng SMAP với lượng đĩa tiêu thụ ở con số hàng trăm ngàn, Katori có được những vai diễn đầu tiên của ḿnh trong các drama như “Hito ni Yasashiku” và không ít các drama này đă trở thành hit, ví dụ như “Galileo” hay “Star no Koi”. Năm 2005, anh nhận được giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất ở cả 2 giải thưởng có uy tín của Nhật. Năm 2009, fan sẽ có cơ hội được gặp lại anh trong “Robe no Taiyou”.

Kimura Takuya: Kimura luôn có một sự cân bằng giữa ca hát với vai tṛ thành viên của SMAP và đóng phim. Sự nghiệp của anh bắt đầu từ những năm 90 với nhiều vai diễn gây ấn tượng mạnh trong ḷng khán thính giả. Tính đến nay, anh đă giành được ít nhất 17 giải thưởng, bắt đầu với bộ phim “Long Vacation” vào năm 1996. Năm 1998, anh giành 2 giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất cho bộ phim “Love Generation”, rồi sau đó anh lại giành tiếp giải Phim truyền h́nh Viện hàn lâm Nhật Bản thêm 5 lần nữa với những bộ drama như “Beautiful Life”, “Hero” và “Nemureru Mori”. Năm 2007, anh đoạt giải thưởng tương tự ở Giải thưởng phim truyền h́nh Seoul mùa giải thứ 2 với phim “Karei Naru Ichizoku” và “CHANGE” vào năm 2008.

Matsumoto Jun: Matsumoto đă diễn xuất trong nhiều phim và nổi danh từ rất sớm, để rồi đến năm 2005 với vai Doumyoji Tsukasa trong “Hana Yori Dango”, tên tuổi anh lúc này thật sự nổi như cồn. Ít ai không biết đến Arashi, càng ít ai không biết rằng Matsumoto của Arashi là một nghệ sĩ thật sự tài ba trên cả 2 lĩnh vực. Anh đă dẫn đầu nhiều bộ phim đ́nh đám, đưa anh đến với nhiều giải thưởng danh giá như “Gokusen” vào năm 2002, “Kimi wa Petto” và “Bambino!” vào năm 2007. Với sự nổi tiếng của ḿnh trong “Hana Yori Dango”, việc anh đoạt được giải thưởng Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất của cả 2 phần phim này vào năm 2005 và 2007 là một điều hoàn toàn không khó đoán trước.

Ninomiya Kazunari: Tài năng của Ninomiya bắt đầu được số đông khán thính giả chú ư đến sau giải thưởng Nam diễn viên chính xuất sắc nhất cho phim “STAND UP!”. Mặc dù rất bận rộn với lịch tŕnh biểu diễn và ca hát dày đặc cùng với Arashi, Ninomiya vẫn chứng tỏ được cái tài của một người nghệ sĩ qua những bộ phim như “Ryusei no Kizuna”, bộ phim đă đem đến cho anh cùng lúc 2 giải thưởng vào năm 2008. Trong khoảng thời gian từ 2004 đến 2007, anh đă giành được 5 giải thưởng bao gồm giải Nam chính và Nam phụ xuất sắc nhất, và xuất diện trong những bộ phim như “Yamada Taro Monogatari” hay “Chichiue-sama”. Điều ấn tượng nhất là anh đă từng xuất hiện trong bộ phim Hollywood “Letter from Iwo Jima”, và gần như là nghệ sĩ Johnny duy nhất từng hợp tác với kinh đô điện ảnh của thế giới này.

Nishikido Ryo: Là một thành viên cốt cán của NEWS, sự nghiệp của anh chỉ mới bắt đầu khoảng 5 năm về trước nhưng đă đem về hàng loạt các giải thưởng quan trọng, đánh bóng tên tuổi chính ḿnh qua những bộ drama thuộc hàng hit như “Last Friends”, “Ryusei no Kizuna” và “One Litre of Tears” với những vai diễn đầy ấn tượng. Đa tài, thẳng thắn, sự trưởng thành của anh trong sự nghiệp ngày càng được mọi người quan tâm và ủng hộ.

Taguchi Junnosuke: Chân ướt chân ráo bước chân vào ngành điện ảnh, Taguchi (KAT-TUN) vẫn không bỏ qua giải Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất của Giải thưởng phim truyền h́nh Nikkan Sports mùa thứ 11 với vai diễn trong “Yukan Club”. Một số phim anh đă tham gia là “Hanayome to Papa” và “Ganbatte Ikimasshoi”.

Takizawa Hideaki: Là một trong những Johnny có sự nghiệp diễn xuất ấn tượng nhất, Takizawa của cặp song ca Takky & Tsubasa nổi tiếng mỗi năm đều có phim đóng. Anh đă có ít nhất 5 lần đạt giải cùng 1 lúc ở cả 2 Giải thưởng phim truyền h́nh Viện hàn lâm Nhật Bản và Giải thưởng phim truyền h́nh Nikkan Sports. Chưa thỏa măn với những ǵ đă đạt được, anh tiếp tục đóng những bộ phim gây ấn tượng mạnh trong ḷng khán giả như “Antique”, “Yoshitsune” và “Yukinojo Henge”.

Tanaka Koki: Tanaka đóng phim lần đầu vào năm 2000 với “Tenshi ga Kieta Machi” nhưng phải đến 2006, sự nghiệp của anh mới bắt đầu có những khởi sắc rơ rệt với vai tṛ tay rap chính trong KAT-TUN khi KAT-TUN chính thức ra mắt khán giả. Cũng trong năm đó, anh đoạt giải Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất với phim “My Boss, My Hero” ở Giải thưởng phim truyền h́nh Viện hàn lâm Nhật Bản mùa thứ 50. Tanaka đă tham gia một số phim như “Tatta Hitotsu no Koi”, “Neverland” và đă đóng vai chính trong “Tokkyu Tanaka San Go”.

Tomoya Nagase: Tomoya đă chứng minh rằng anh không chỉ là một ca sĩ xuất sắc của TOKIO mà c̣n là một diễn viên có tố chất. Năm 2001, anh đoạt giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất trong bộ phim hài về cuộc đời của một ngôi sao nhạc rock “Mukodono!”. 3 năm sau, anh vẫn giữ được phong độ đó của ḿnh với “Seoul” và “Tiger & Dragon”. Tomoya c̣n góp phần không nhỏ trong các bộ phim nổi tiếng như “Ikebukuro West Gate Park”, “My Boss, My Hero”…

Yamada Ryosuke: Người ta thường bảo tuổi trẻ tài cao, và cậu bé Yamada của Hey! Say! JUMP quả là một dẫn chứng thuyết phục. Trong cả 2 năm 2007 và 2008, Yamada đều được bầu chọn là diễn viên được yêu thích nhất và đă xuất hiện trong một loạt các drama như “Tantei Gakuen Q” khi cậu vẫn c̣n là 1 Johnny Jr. , “One Pound Gospel” cùng với Kamenashi (KAT-TUN), “Scrap Teacher” và “Sensei wa Erai” với các thành viên của Hey! Say! JUMPYamada có một lượng fan khổng lồ, có thể sánh ngang hàng với các đàn anh của ḿnh.

Yamashita Tomohisa: Thường được người hâm mộ gọi là YamaPi, Yamashita có kinh nghiệm diễn xuất từ khi anh c̣n rất nhỏ. Chỉ 2 năm sau khi ra mắt khán giả truyền h́nh, anh đă đạt giải Gương mặt mới triển vọng nhờ vai diễn trong “Ikebukuro West Gate Park”. Vừa là trưởng nhóm của NEWS vừa đóng phim liên tục, anh vẫn không mệt mỏi và vẫn giật được hàng loạt các giải thưởng quan trọng với các phim “Proposal Daisakusen” và “Nobuta wo Produce”, bộ phim mà anh đă hợp tác cùng Kamenashi (KAT-TUN) để hát nhạc nền và trở thành hit vào thời điểm ấy. Một số phim mới nhất của anh bao gồm “Kurosagi” và “Code Blue”. Anh cũng đă phát hành một single solo của riêng ḿnh, “Daite Senorita” để thúc đẩy quảng cáo cho bộ “Kurosagi”.

SONY MUSIC

Nakashima Mika: Nổi lên như một hiện tượng trong những năm gần đây sau khi tài năng diễn xuất của cô tỏa sáng trong “NANA” và “NANA 2”, bộ phim mà cô đă đoạt giải Gương mặt triển vọng của Giải thưởng Viện hàn lâm Nhật Bản mùa thứ 29, Nakashima dần có được vị thế vững vàng trong ngành điện ảnh. Cô là một trong số ít những nữ nghệ sĩ thành công vang dội ở cả hai lĩnh vực, minh chứng qua những bộ phim như “Kizudarake no Love Song” và “Ryusei no Kizuna”.

Sun Music Production

Tsukamoto Takashi: Tsukamoto đă tham gia gần 80 bộ drama từ khi bắt đầu sự nghiệp vào năm 1997. Năm 2003, anh thử sức ḿnh bên lĩnh vực âm nhạc, tính đến nay đă phát hành 1 vài single và album. Một số vai diễn đáng chú ư của anh là trong các phim “Taiyou no Uta”, “Batlle Royale”, “Kisarazu Cats Eyes”, “Tokkyu Tanaka San Go” và “STAND UP!”

Watanabe Productions

Seto Koji: Tài năng của anh được phát hiện từ khi tuổi đời c̣n rất trẻ, bắt đầu sự nghiệp trong ngành giải trí từ năm 2005. Năm 2008, anh tŕnh bày bài hát Namida no Furusato của Bump of Chicken, nhạc nền bộ drama “Koizora” và được đánh giá cao. Seto tham gia TETRA-FANG, nhóm nhạc được thành lập để quảng bá cho bộ drama “Kamen Rider” mà anh đóng vai chính, với vai tṛ là giọng hát chính của nhóm. Mặc dù chỉ là tân binh nhưng Seto đă có 1 sự nghiệp đóng phim ấn tượng qua các bộ phim như “Rocket Boys” “Happy Boys” và gần đây nhất là “Atashinchi no Danshi”.

Các nghệ sĩ khác

HYDE: Là thành viên ṇng cốt của ban nhạc rock L’Arc~en~Ciel, HYDE chủ yếu hoạt động bên mảng âm nhạc nhưng không v́ thế mà anh bỏ qua cơ hội tỏa sáng trên màn ảnh rộng. Anh đă tham gia 2 bộ phim điện ảnh: “Moon Child” cùng với Gackt và “Kagen no Tsuki: Last Quarter”.

Gackt: Là một trong những nghệ sĩ Jpop vang danh nhất thế giới, Gackt không ngừng làm khán giả bất ngờ ở tất cả các lĩnh vực như âm nhạc, truyền h́nh và điện ảnh. Gackt đă tham gia 2 bộ phim truyền h́nh và góp mặt trong bộ phim điện ảnh “Moon Child” do chính anh viết kịch bản. Sắp tới đây, anh sẽ xuất hiện trong siêu phẩm Hollywood “Bunraku”, dự định sẽ công chiếu vào mùa hè năm 2009 này.

Takahiro Nishikawa: Là một trong rất nhiều giọng hát chính của AAA, Takahiro chỉ mới tham gia hoạt động truyền h́nh một vài lần nhưng đă được đón nhận nồng nhiệt bởi các fan trên toàn thế giới. Các phim anh đă tham gia bao gồm “Ghost Friends", "Mirai Seiki Shakespeare", "Delicious Gakuin” v.v… Anh cũng đă từng tham gia phim điện ảnh “Ai no Mukidashi”.

Takanori Nishikawa: Takanori, được mọi người biết đến với nghệ danh T.M Revolution, là một nghệ sĩ thành công đă tham gia một số lượng lớn drama trong suốt sự nghiệp của ḿnh. Anh đă đóng rất nhiều phim hay, mà điển h́nh trong số đó là phiên bản Nhật của loạt phim điện ảnh “Little Shop of Horrors”. Anh hoạt động tích cực ở mảng điện ảnh với các phim như “Beautiful Life”, “Corazon de Melon” v.v… cũng như ở mảng âm nhạc.

Tamaki Hiroshi: Một tài năng lớn lên từ ḷ đào tạo AVEX, Tamaki đóng phim rất sớm từ những năm 90, nhưng phải đến những năm gần đây, mà cụ thể là nhờ giải thưởng đầu tiên của anh cho phim “Shikaotoko Aoniyoshi” th́ tài năng của anh mới bắt đầu được mọi người chú ư đến. Ngoài vai diễn trong drama nổi tiếng “Nodame Cantible”, anh c̣n tham gia một số phim như “Waterboys”, “Rockers” , “Aoi Haru” và “Great Teacher Onizuka”. Vai diễn mới nhất của anh đă được công bố là một vai trong “Love Shuffle”. Bộ phim đă bắt đầu lên sóng từ tháng Giêng năm 2009.

Tsuchiya Anna: Tsuchiya ra mắt khán giả lần đầu tiên với “Kamikaze Girls” vào năm 2004 và bộ phim là bắt đầu cho chuỗi các phim điện ảnh của cô được công chiếu ở cả Mỹ và Nhật. Một số phim khác của chuỗi phim ấn tượng này là “The Taste of Tea”, “Sakuran” và “Dororo”. Với vai diễn trong “Kamikaze Girls”, Tsuchiya đă đạt nhiều giải thưởng quan trọng ở liên hoan phim Kinema Junpo, Mainichi Film và Houchi Film với tư cách là Gương mặt mới triển vọng của làng giải trí. Chưa đầy một năm sau, cô lại lần nữa đứng trên bục đón nhận danh hiệu nữ diễn viên xuất sắc nhất của Liên hoan phim Yokohama lần thứ 26 cũng như của Giải thưởng Viện hàn lâm Nhật Bản.

::::::::::::::::::::::::::::

*Chết ngất*

I am now the happiest girl in the world @____@
Koyato @_____@
Tegomasu @__@
Ryopi @____@

I'll be your fan forever - ever
 
Last edited by akachan; 12-09-2015 at 01:15 PM..
Reply With Quote
The Following 3 Users Say Thank You to rinchan For This Useful Post:
akachan (07-02-2009), Ciel (06-24-2011), meteora (11-27-2010)
Old 11-02-2009, 11:47 PM   #84 Offline
akachan
Takazuki Kyon
Winner of Bông Hậu Contest '09
Bông Vương Contest 2010
akachan's Avatar

Join Date: Oct 2006
Location: Kame House
Posts: 8,190
Jai Đẹp: 4,486
Thanks: 6,372
Thanked 8,623 Times in 3,435 Posts
Send a message via Yahoo to akachan
hôm nay bạn ka lên mạng đọc thêm thông tin về nguyễn nhật ánh (bạn ka hâm mộ nhà văn này vô cùng ><). trước có nghe chuyện tác phẩm Mắt biếc được dịch sang tiếng Nhật, nhưng không biết nhiều về dịch giả, t́nh cờ hôm nay mới biết tên, đó là Kato Sakae, nên có t́m tư liệu xem vị dịch giả này có tâm huyết thế nào với văn học Việt Nam. đương nhiên trong Ho! th́ không dính đến văn học nên không thảo luận, tuy nhiên t́nh cờ bài phỏng vấn sau đây lại có đề cập đến phim Nhật, 1 đoạn rất ngắn thôi nên copy lại bà con xem chơi ^^ Lưu ư, bài phỏng vấn này đă là năm 2006 rồi, bây giờ th́ văn học đương đại Nhật Bản đầy hết các nhà sách

Thêm một tập truyện ngắn Việt Nam vừa được chuyển sang Nhật ngữ để giúp độc giả Nhật Bản có thể hiểu thêm về tâm hồn Việt. Dịch giả vẫn là chị Kato Sakae, người bạn rất lâu năm và đầy t́nh cảm với Việt Nam. Chị đă dành cho Thanh Niên cuộc tṛ chuyện dưới đây...

* Chị cho biết những độc giả nào ở Nhật có thể sẽ đọc tập truyện ngắn Việt Nam này?

- Tôi nghĩ có thể phần lớn độc giả ở tuổi trung niên, những người đang nhớ lại kỷ niệm thời thanh niên của ḿnh, trong nhiều hồi ức gắn liền với những miền quê rất gần gũi khung cảnh Việt Nam hiện nay.

* Sách sẽ được phổ biến ở những nơi nào: nhà sách hay thư viện?

- Sách sẽ được ưu tiên có mặt ở hệ thống thư viện v́ ở đây sẽ có đông người đến đọc, sách sẽ được phổ biến rộng hơn.

* Chi đă chọn truyện để dịch dựa trên những tiêu chí nào?

- Cách đây 10 năm, tôi đă in tập Truyện ngắn VN hiện đại (tập I), gồm những truyện xuất hiện sau đổi mới như Chuyện như đùa của Mai Ngữ, Truyền thuyết quần tiên của Xuân Thiều, Minu xinh đẹp của Nguyễn Thị Thu Huệ và Những bài học nông thôn của Nguyễn Huy Thiệp... Lần này, tôi tập hợp những truyện mới hơn, ra mắt bạn đọc từ thập niên 90, phản ảnh hiện thực xă hội VN hiện nay. Theo tôi nghĩ, đặc trưng nổi bật của văn học VN từ những năm 90 là sự xuất hiện nhà văn nữ và nhà văn trẻ sinh ra và lớn lên sau chiến tranh. V́ vậy trong tập sách này, nhà văn nữ chiếm 7/11 truyện và giới trẻ là 2/11. Tôi cũng chọn tác phẩm có phương pháp sáng tác mới như Người chăn ḅ thần thánh, Bến trần gian và một số truyện đề cập đến lịch sử như Người văi linh hồn, Kẻ sát nhân lương thiện.

"Ngoài công việc dịch thuật văn học VN, tôi c̣n giới thiệu văn hóa VN hiện đại cho độc giả Nhật Bản trên một số báo chí. Đối với tôi, Báo Thanh Niên là một trong những nguồn tin hấp dẫn nhất ở VN"
* Chị thấy gần gũi với loại nhân vật nào của Việt Nam? V́ sao?

- Tôi gần gũi với kiểu nhân vật năng động (làm hết ḿnh cũng như chơi hết ḿnh), thông minh, chăm chỉ, trẻ trung (cho dù lớn tuổi) và tử tế với người khác. Có được như vậy họ mới có thể sống c̣n trong thời đại VN thâm nhập vào cộng đồng quốc tế.

* Gần đây, phim truyền h́nh Hàn Quốc đang tràn sang các nước châu Á khác như Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản... Theo chị, v́ sao khán giả của những nước này lại thích phim truyền h́nh Hàn Quốc đến vậy? Và họ thuộc thành phần nào?

- Những khán giả Nhật Bản thích phim truyền h́nh Hàn Quốc hầu hết thuộc tầng lớp trung niên. V́ trong phim thường có cảnh chung sống đại gia đ́nh, giống với đời sống trước đây của Nhật Bản khiến họ đồng cảm được. C̣n thanh niên Nhật Bản hiện nay lại không mấy quan tâm đến loại phim này v́ đời sống lớp trẻ Nhật Bản hoàn toàn khác với thế hệ trước. Khi yêu, họ sẽ hành động hoàn toàn theo ư ḿnh, không để ai cản trở, can thiệp. Họ tự quyết định cuộc đời ḿnh.


* Thanh niên Nhật Bản hiện nay sống có khác nhiều so với thế hệ cha anh họ?

- Thanh niên Nhật Bản lớn lên trong một xă hội đă phát triển, họ không cần phải nỗ lực cao để có được cái ḿnh muốn. Nếu thanh niên Việt Nam và một số nước coi khả năng nói tiếng Anh là một điều kiện để t́m việc th́ thanh niên Nhật Bản không cần phải biết Anh văn vẫn có nhiều công ty lớn của Nhật Bản sẵn sàng thu nhận họ. Nếu họ học Anh văn th́ v́ mục đích khác: giao tiếp hay đi du lịch chẳng hạn.

* Xă hội Nhật Bản rất phát triển, vậy người dân Nhật có bị lệ thuộc vào các phương tiện hiện đại lắm không?

- Tôi từng chứng kiến nhiều hành khách trên các phương tiện giao thông công cộng không thể rời tay khỏi chiếc điện thoại di động. Nếu không nói th́ họ nhắn tin. Khi không sử dụng, họ vẫn cầm sẵn điện thoại ở tay. Ngay cả khi ngủ gà gật, tay họ vẫn nắm chặt điện thoại di động để nếu có chuông th́ đưa lên nghe ngay lập tức.

* Hiện nay ở Việt Nam, phim truyền h́nh Trung Quốc và Hàn Quốc chiếm một thời lượng phát sóng rất cao. Trong khi đó, phim Nhật Bản hầu như vắng bóng. Chị có thể nói ǵ về điều này?

- Tôi nghĩ có lẽ do tiền bản quyền rất cao nên phim không sang Việt Nam được.


* Ngay cả văn học Nhật Bản đương đại cũng không được giới thiệu ở Việt Nam. Đó là điều đáng tiếc v́ chúng tôi rất muốn biết hiện nay các nhà văn Nhật Bản đang viết ǵ và viết như thế nào...

- Có lẽ do chưa có những dịch giả người Nhật giỏi tiếng Việt đủ để có thể giới thiệu văn học Nhật Bản cho độc giả Việt Nam.

* Chị có thể nói điều ǵ đó với độc giả Báo Thanh Niên?

- Ngoài công việc dịch thuật văn học VN, tôi c̣n giới thiệu văn hóa VN hiện đại cho độc giả Nhật Bản trên một số tờ báo. Đối với tôi, Báo Thanh Niên là một trong những nguồn tin hấp dẫn nhất ở VN. Tôi nghĩ rằng một tờ báo cung cấp được thông tin hay hay không là do tŕnh độ của độc giả có giúp nâng cao chất lượng tờ báo hay không. Tôi hy vọng độc giả Báo Thanh Niên sẽ động viên và đóng góp nhiều ư kiến giúp Ban biên tập tiếp tục có thêm nhiều nội dung hữu ích và hấp dẫn.

- Xin cám ơn chị về cuộc chuyện tṛ này.

Nguồn [Only Registered Users Can See Links. Click Here To Register...]

::::::::::::::::::::::::::::

Để download Vietsub của Ho! các bạn vui ḷng truy cập [Only Registered Users Can See Links. Click Here To Register...]

Bán poster tặng kèm trên báo JE trong năm 2012 và 2013, liên hệ ym shoptonten
 
Reply With Quote
The Following 2 Users Say Thank You to akachan For This Useful Post:
meteora (11-27-2010), sumoan (11-03-2009)
Old 07-28-2013, 01:59 PM   #85 Offline
akachan
Takazuki Kyon
Winner of Bông Hậu Contest '09
Bông Vương Contest 2010
akachan's Avatar

Join Date: Oct 2006
Location: Kame House
Posts: 8,190
Jai Đẹp: 4,486
Thanks: 6,372
Thanked 8,623 Times in 3,435 Posts
Send a message via Yahoo to akachan
Ư KIẾN CỦA CÁC TÀI DANH ĐIỆN ẢNH NHẬT BẢN TRONG LĨNH VỰC SÁNG TÁC

Akira Kurosawa

Điện ảnh là một nghệ thuật ấn tượng, nhưng tiếc thay chúng ngày càng mất đi xúc cảm. Một bộ phim cần được làm bởi trái tim và được xem bởi một trái tim chứ không chỉ với bộ năo.

Chúng ta không tự tồn tại như mỗi người đang có, chính những thành tố khách quan đă h́nh thành nên chúng ta. Phải nghĩ đến điều này khi xây dựng nhân vật.
Hầu hết những kịch bản tốt đều có rất ít thời điểm giải thích. Cố giải thích mọi ngơ ngách của kịch bản là cái bẫy nguy hiểm nhất chúng ta có thể lọt vào. Rất dễ giải thích bằng lời tâm lư của nhân vật, nhưng rất khó diễn tả trạng huống tinh thần qua ánh mắt và hành động.


Cuộc sống của một bộ phim đơn giản là dựa trên khả năng “làm như thật” mọi thứ mà ta có thể.

Nếu người đạo diễn không có ǵ để nói th́ mọi thứ thủ thuật đều vô dụng. Kỹ thuật không mang thêm cho bộ phim kích thước khác, mà ngược lại càng bộc lộ cái trống rỗng.

Các bạn thường thấy trong phim của tôi những h́nh ảnh mạnh mẽ, tận cùng: hoặc mùa hè nóng cháy, hoặc mùa đông giá băng. Tôi thích sự tận cùng bởi v́ nó là nguồn gốc của cuộc sống.

Kịch bản là cái gốc để làm nên cái cây. Công việc đạo diễn là làm cho cây đơm hoa kết trái.

Nhiều đạo diễn rất thích dùng ống kính zoom, lại hay room vào những lúc diễn viên bất động như một cách làm sống động khung h́nh. Điều này thật tệ hại. Nếu phải dùng zoom th́ chỉ nên chuyện động cùn lúc với chuyển động của diễn viên, khi họ dừng lại th́ zoom nên chấm dứt. Nếu không người xem sẽ ư thức được chuyển động của máy quay – điều này rất dở trong điện ảnh.

Cái khó và sự thành công khi làm việc với diễn viên chuyên nghiệp là phải “đập nát” họ trong mỗi phim, sau đó “tái sinh” họ trong phim khác. Tôi thường quay cảnh dài và cùng lúc nhiều máy để diễn viên không biết máy nào đang quay, và như thế họ sẽ tự nhiên hơn, không ư thức về cơ thể.

Điều quan trọng nhất khi dựng phim là phải thật khách quan. Có những cảnh khi quay các bạn rất công phu, hào hứng, nhưng nếu sự hào hứng đó không thấy được trên màn ảnh th́ phải cương quyết cắt bỏ. Chúng hoàn toàn vô ích, hơn thế, ảnh hưởng xấu đến không khí toàn cục.

Kira Kurosawa

Với một kịch bản tốt người đạo diễn giỏi sẽ làm ra tuyệt tác, một đạo diễn bậc trung sẽ làm ra bộ phim tầm tầm. Nhưng với một kịch bản tồi th́ dù đạo diễn giỏi cũng không thể làm ra bộ phim hay.

Takeshi Kitano

Điện ảnh đă có từ 100 năm, người xem đă có kinh nghiệm h́nh dung những ǵ phim không chỉ ra. Tôi không muốn cho kahn1 gải những lời chỉ dẫn. Họ có thể tự suy nghĩ mọi điều.

Phim của tôi thường chất chứa bạo lực nhưng đó là thứ bạo lực để người xem cảm thấy đau đớn, ghê tởm và xa lánh.

Với tôi, một bộ phim giống như một cái rương chứa đồ chơi.

Bí quyết làm việc với diễn viên của tôi là: không đưa thoại quá sớm cho họ. Bởi họ sẽ tự tập, tưởng tượng, dần quen với bộ phim riêng của họ trong đầu. Và do vậy khi ra trường quay những ǵ đạo diễn muốn hoàn thành không giống những ǵ họ chuẩn bị.

Cung đoạn quay phim giống như giai đoạn chế tạo linh kiện của một món đồ chơi, Chính montage (dựng phim) mới là giai đoạn hoàn thiện món đồ chơi đó.

Naomi Kawase

Tôi thích nói rằng tôi không có giới hạn trong điện ảnh khi t́m cách chỉ ra sức mạnh sống c̣n trong mỗi con người chúng ta. Để đi đến điều đó cần pahỉ có sự đau đớn.

Với tôi, cái chính là phản ứng của con người. Thí dụ nhân vật tặng người yêu một chiếc “bùa” hạnh phúc chẳng hạn, tôi sẽ không quay cận cảnh chiếc bùa h́nh thức ra sao mà quay niềm hạnh phúc trong đôi mắt của người được tặng...

Yashujiro Ozu

Phàm ở đời, cái ǵ không quan trọng th́ làm theo trào lưu, cái ǵ quan trọng th́ làm theo đạo đức; c̣n trong nghệ thuật th́ làm theo ư ḿnh.

Tôi tin là tất cả các nhà đạo diễn đều có những ư tưởng nghệ thuật, nhưng điều cần thiết, trước tiên, là anh ta phải có khả năng làm việc như một nghệ sĩ.

Kiju Yoshida

Cái làm tôi kinh khủng nhất ở điện ảnh hiện đại, đặc biệt điện ảnh Mỹ là sự thiếu vắng tính bí ẩn. Người ta giải thích huỵch toẹt với bạn mọi điều. Tôi thích đểu người xem c̣n chỗ đặt ra câu hỏi và tự t́m thấy câu trả lời.

~ Trích Ư tưởng nghề nghiệp - Việt Linh ~

::::::::::::::::::::::::::::

Để download Vietsub của Ho! các bạn vui ḷng truy cập [Only Registered Users Can See Links. Click Here To Register...]

Bán poster tặng kèm trên báo JE trong năm 2012 và 2013, liên hệ ym shoptonten
 
Last edited by akachan; 12-09-2015 at 09:55 AM..
Reply With Quote
The Following User Says Thank You to akachan For This Useful Post:
ajisai (07-28-2013)
Reply


Thread Tools
Display Modes

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is Off

Forum Jump



   
All times are GMT +7. The time now is 08:00 AM.
Copyright ©2000 - 2018, Hotakky Community
vBulletin Skin developed by: Ho!Takky
vBCredits v1.4 Copyright ©2007 - 2008, PixelFX Studios